Tổng kết các dự án JIVE, JIVE 2 và MEHRLIN: Gần một thập kỷ thúc đẩy xe buýt hydro tại châu Âu
Ngày 07 tháng 7 năm 2026 - Annie Nguyễn
Sau gần một thập kỷ hợp tác (2016–2025), các kết luận cuối cùng từ ba dự án tiên phong của châu Âu – MEHRLIN, JIVE và JIVE 2 – đã chính thức được công bố. Đây là những sáng kiến quan trọng nhằm thúc đẩy triển khai vận tải hydro trong lĩnh vực vận tải công cộng, với sự tài trợ từ CINEA và Clean Hydrogen Partnership.
Tổng quan và quy mô dự án
Ba dự án hoạt động song song, đóng vai trò dẫn đầu trong việc thúc đẩy vận tải hydro bằng cách giải quyết hai yếu tố then chốt: cơ sở hạ tầng tiếp nhiên liệu và phương tiện. Kết quả đạt được bao gồm:
-
Triển khai hơn 290 xe buýt pin nhiên liệu (FCB) và 17 trạm tiếp nhiên liệu hydro (HRS)
-
Thực hiện tại 16 địa điểm trên 7 quốc gia (Đức, Ý, Hà Lan, Vương quốc Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Latvia)
-
Hơn 35 đối tác tham gia, bao gồm các nhà vận hành vận tải công cộng, chính quyền thành phố, các nhà lãnh đạo ngành công nghiệp, chuyên gia và các đối tác hỗ trợ
Thành tựu nổi bật của MEHRLIN (trạm tiếp nhiên liệu hydro)
Dự án MEHRLIN tập trung vào giải quyết khoảng cách về cơ sở hạ tầng tiếp nhiên liệu hydro tại châu Âu. Các kết quả chính bao gồm:
-
7 trạm HRS mới/nâng cấp đi vào hoạt động từ tháng 6/2023, đạt mục tiêu 12-18 tháng vận hành
-
Hơn 200 tấn hydro đã được tiếp nhiên liệu để hỗ trợ các đội xe FCB
-
Độ tin cậy trung bình của HRS đạt 95% (mục tiêu 99%)
-
Thời gian tiếp nhiên liệu dưới 10 phút/phương tiện tại hầu hết các địa điểm
Bài học kinh tế quan trọng từ MEHRLIN:
-
Không có trạm nào đạt điểm hòa vốn tài chính hàng năm do tỷ lệ sử dụng thấp
-
Khả năng sinh lời phụ thuộc vào tỷ lệ sử dụng cao và công suất trạm đủ lớn (>500 kg/ngày với trợ cấp, >750 kg/ngày nếu không có trợ cấp)
-
Chi phí nhiên liệu cho FCB tiến gần đến xe diesel khi HRS được sử dụng hết công suất
Thành tựu nổi bật của JIVE và JIVE 2 (xe buýt pin nhiên liệu)
Các dự án JIVE tập trung vào thương mại hóa xe buýt pin nhiên liệu trên quy mô lớn:
-
Hoạt động thực tế: Khoảng 24 triệu km đã được xe buýt vận hành trong điều kiện thực tế
-
Hiệu suất nhiên liệu: Mức tiêu thụ hydro dao động 5,5-9,1 kg/100 km cho xe 12 mét và khoảng 9 kg/100 km cho xe 18 mét, vượt mục tiêu ban đầu
-
Độ tin cậy: 11/18 địa điểm đạt mục tiêu độ sẵn sàng >90%; thời gian ngừng hoạt động thường không do hệ thống truyền động pin nhiên liệu gây ra mà do các bộ phận cơ khí ngoại vi và chờ phụ tùng
-
Giá thành: Đạt mục tiêu giá €650.000/xe tiêu chuẩn (JIVE) và €625.000 (JIVE 2), giảm đáng kể so với các dự án trước đây
-
Đa dạng: Triển khai nhiều loại xe buýt từ 5 nhà sản xuất châu Âu (Van Hool, Solaris, Wrightbus, Safra, Caetano), với nhiều cấu hình và ứng dụng khác nhau
-
Sáng kiến tiên phong: Barcelona là thành phố đầu tiên của Tây Ban Nha vận hành FCB, Pau là nơi đầu tiên triển khai FCB 18 mét, Brighton và Cologne trở thành những thành phố đầu tiên ở châu Âu có hơn 50 FCB
Thách thức và bài học kinh nghiệm
Báo cáo tổng kết đã xác định sáu thách thức chính trong suốt quá trình dự án:
-
Đại dịch COVID-19: Gây gián đoạn đáng kể đến quá trình mua sắm, sản xuất, giao hàng và vận hành vận tải công cộng
-
Biến động thị trường hydro: Thị trường trải qua biến động, bao gồm cả phá sản của các nhà cung cấp chủ chốt (ví dụ: nhà sản xuất xe buýt)
-
Tính khả dụng và phân phối dữ liệu: Sự chậm trễ và khoảng trống trong dữ liệu đã hạn chế phạm vi phân tích
-
Giá hydro cao: Giá điện tăng cao vào các năm 2022-2023 đã tác động đáng kể đến hoạt động, một số địa điểm phải giảm số lượng xe buýt vận hành trong giai đoạn giá cao điểm. Các đối tác đàm phán hợp đồng dài hạn cố định ít bị ảnh hưởng hơn
-
Suy giảm pin nhiên liệu: Một số địa điểm gặp hiệu suất thấp hơn khi FCB hoạt động ngoài thông số thiết kế
-
Độ tin cậy của HRS và FCB: Thiếu sự dự phòng cho các trạm khiến HRS dễ bị tổn thương với sự cố kỹ thuật; thời gian chờ phụ tùng và bảo trì ảnh hưởng đến độ tin cậy của xe buýt
Phân tích chi phí vòng đời (LCA) và TCO
Nghiên cứu so sánh FCB với xe buýt điện (BEB) cho thấy:
-
Vòng đời phát thải: BEB có tiềm năng nóng lên toàn cầu thấp hơn trung bình 36% so với FCB, chủ yếu do khí thải từ khâu cung cấp nhiên liệu. Tuy nhiên, FCB tại các địa điểm sử dụng năng lượng gió có dấu chân carbon thấp hơn BEB sử dụng điện lưới thông thường
-
Tổng chi phí sở hữu: TCO của BEB thấp hơn 11-10% so với FCB. Các yếu tố chi phí chính là giá xe, bảo trì và chi phí lái xe. Đối với các nhà vận hành có ràng buộc về lưới điện hoặc tuyến đường khó khăn, FCB cung cấp giải pháp thay thế linh hoạt hơn với tác động TCO tương đối nhỏ
Những yếu tố then chốt cho sự thành công và tương lai
Bốn yếu tố thiết yếu đã được xác định để thúc đẩy FCB vào giai đoạn thương mại thành công:
-
Mở rộng quy mô giảm chi phí: Nhu cầu mạnh mẽ và ngày càng tăng là cần thiết để mở khóa lợi thế kinh tế nhờ quy mô, từ đó giảm chi phí sản xuất và vận hành, cũng như giá hydro thông qua mua hàng số lượng lớn
-
Tăng cường hệ thống an toàn: Đảm bảo đào tạo bắt buộc và sự tham gia của các bên liên quan (bao gồm đội ứng phó khẩn cấp) để bảo vệ an toàn công cộng
-
Bảo trì, phụ tùng và độ tin cậy: Đảm bảo bảo trì đáng tin cậy cho trạm và xe buýt, cũng như chuỗi cung ứng phụ tùng ổn định. Xe buýt và đặc biệt là HRS cần đạt mức độ tin cậy cao hơn
-
Xác định lợi thế của FCB: Cần xác định các trường hợp sử dụng cụ thể nơi FCB có thể tạo ra giá trị gia tăng (hoặc vượt trội) so với BEB, đặc biệt trên các tuyến đường dài, địa hình khó khăn hoặc khi hạn chế về lưới điện
Tác động lan tỏa
Chương trình roadshow của dự án đã diễn ra tại 57 thành phố trên khắp châu Âu. Kết quả cho thấy 80% các thành phỏ vẫn quan tâm đến công nghệ hydro hoặc đã triển khai FCB. Latvia và Hungary là hai câu chuyện thành công điển hình từ các roadshow này, với Hungary đã tổ chức roadshow quốc gia và thử nghiệm FCB dài hạn tại Budapest, đạt được kết quả ấn tượng: hơn 60.000 km, tiêu thụ 4.500+ kg hydro và tránh được 35 tấn khí CO₂.
Một số đối tác dự án đã cam kết với tương lai FCB vượt xa dự án. Cologne (Đức) hiện vận hành đội xe FCB lớn nhất châu Âu với 130 xe. Brighton (Anh) vận hành đội xe FCB lớn nhất Vương quốc Anh với 54 xe. Barcelona (Tây Ban Nha) lên kế hoạch mở rộng đội xe FCB cùng với chiến lược mở rộng HRS trong những năm tới.
Nguồn / Source: Tài liệu "JIVE, JIVE 2 & MEHRLIN - Project Conclusions" do ERM biên soạn năm 2025, hoàn thiện tháng 5/2026, dựa trên đóng góp từ các đối tác dự án. / Document "JIVE, JIVE 2 & MEHRLIN - Project Conclusions" prepared by ERM in 2025, finalised in May 2026, based on contributions from project partners.

