GHES 2026: Indonesia đẩy nhanh hệ sinh thái hydro xanh với hành lang 194 km, xe buýt H2 DDF và 93 dự án trị giá 32 nghìn tỷ rupiah
Ngày 25 tháng 7 năm 2026
Annie Nguyễn
Hội nghị thượng đỉnh và Triển lãm Hệ sinh thái Hydro Toàn cầu (GHES) 2026 diễn ra từ ngày 21–23 tháng 7 tại Trung tâm Hội nghị Quốc tế Jakarta (JICC), quy tụ các quan chức chính phủ, doanh nghiệp, học viện, nhà đầu tư, viện nghiên cứu và đối tác quốc tế nhằm đẩy nhanh phát triển hệ sinh thái hydro quốc gia Indonesia. Hội nghị được khai mạc chính thức bởi Bộ trưởng Năng lượng và Tài nguyên Khoáng sản (ESDM) Bahlil Lahadalia.
Điểm nhấn hội nghị: Ra mắt hai sáng kiến quan trọng
Hai sáng kiến lớn đã được giới thiệu tại GHES 2026, đánh dấu bước chuyển từ lập kế hoạch sang triển khai thực tế:
-
Hành lang Hydro Xanh (194 km): Mạng lưới hạ tầng chiến lược kết nối Jakarta, Karawang và Patimban, được thiết kế để liên kết sản xuất năng lượng sạch với các trung tâm công nghiệp, cảng biển và trung tâm tăng trưởng kinh tế. Hành lang được phát triển dựa trên phân tích không gian, kỹ thuật, kinh tế và logistics, với 12 vị trí tiềm năng được xác định dọc theo chuỗi cung ứng. Giai đoạn đầu sẽ tập trung triển khai các trạm tiếp nhiên liệu hydro tại chỗ với thiết bị điện phân PEM công suất 100 kg hydro xanh mỗi ngày. "Hành lang Hydro Xanh không phải là điểm đến cuối cùng. Đó là nền tảng để thiết lập mạng lưới hành lang hydro quốc gia", ông Prahoro Nurtjahyo, Trưởng ban Phát triển Nguồn nhân lực ESDM, cho biết.
-
Xe buýt thí điểm H2 DDF: Xe buýt diesel thuộc sở hữu của nhà vận hành xe buýt nhà nước Perum DAMRI đã được cải tạo để vận hành bằng hỗn hợp nhiên liệu diesel và khí hydro. Chương trình được phát triển thông qua hợp tác giữa ESDM, PT PLN (Persero) và Perum DAMRI.
93 dự án hydro trên khắp Indonesia
Tổng Giám đốc Năng lượng Mới, Tái tạo và Tiết kiệm Năng lượng (EBTKE) Eniya Listiani Dewi công bố chính phủ đang chuẩn bị 93 sáng kiến phát triển hệ sinh thái hydro trải khắp Indonesia, đại diện cho 32 nghìn tỷ rupiah vốn đầu tư. Các dự án này nhằm hỗ trợ khử carbon trong các lĩnh vực công nghiệp, vận tải và điện, đồng thời giảm sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch.
Các dự án cụ thể bao gồm:
-
Nhà máy hydro xanh Ulubelu tại Lampung
-
Nhà máy Lahendong tại Bắc Sulawesi
-
Dự án loại bỏ diesel tại Sumba, Đông Nusa Tenggara (dự kiến COD vào năm 2028)
-
Dự án đảo Rote hợp tác với PLN, kết hợp điện mặt trời với lưu trữ hydro
-
Dự án chất thải thành hydro tại Bandung, Tây Java
Hạ tầng hỗ trợ
Để hỗ trợ hành lang và hệ sinh thái rộng lớn hơn:
-
PLN đã phát triển Nhà máy Hydro Xanh và trạm tiếp nhiên liệu tại Muara Karang, cùng các trạm bổ sung tại Senayan và Duren Tiga phục vụ khu vực đô thị Jakarta.
-
PT Toyota Motor Manufacturing Indonesia (TMMIN) đang xây dựng trạm tiếp nhiên liệu hydro tại Karawang để hỗ trợ trình diễn xe hydro.
-
Patimban Greenport và Toyota Tsusho đang hợp tác trong khuôn khổ "Eastern GX Corridor".
Cam kết của chính phủ và tầm nhìn chiến lược
Bộ trưởng Bahlil Lahadalia nhấn mạnh phát triển hydro phù hợp với tầm nhìn Asta Cita của Tổng thống Prabowo Subianto, nhấn mạnh tự chủ năng lượng, chế biến sâu công nghiệp và khử carbon dài hạn. "Hydro là nguồn năng lượng thay thế quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh bất ổn địa chính trị toàn cầu hiện nay, như xung đột đang diễn ra tại Trung Đông, đe dọa nguồn cung năng lượng truyền thống", Bahlil nói.
Chủ tịch PLN Darmawan Prasodjo khẳng định cam kết của PLN: "Hydro là giải pháp chuyển đổi từ nhiên liệu hóa thạch sang năng lượng tương lai. PLN sẵn sàng dẫn dắt phát triển hệ sinh thái hydro quốc gia tích hợp thông qua hợp tác với chính phủ, doanh nghiệp và đối tác".
Hướng tới tương lai
GHES 2026 thể hiện quyết tâm của Indonesia trong việc chuyển từ tham vọng hydro sang triển khai thực tế. Với hành lang 194 km, xe buýt thí điểm H2 DDF, 93 dự án trị giá 32 nghìn tỷ rupiah và sự tham gia tích cực từ các nhà cung cấp công nghệ toàn cầu như IMI VIVO với giải pháp điện phân PEM, Indonesia đang định vị mình như một tác nhân quan trọng trong nền kinh tế hydro toàn cầu. Chính phủ đã chỉ định hydro và amoniac là nguồn năng lượng mới chiến lược theo Quy định Chính phủ số 40 năm 2025, hướng tới đóng góp 10–12% nguồn cung năng lượng sơ cấp quốc gia vào năm 2060.

