ĐỀ XUẤT BỔ SUNG PHƯƠNG TIỆN SỬ DỤNG HYDRO VÀ AMMONIA VÀO QUYẾT ĐỊNH 876/QĐ-TTG: LỘ TRÌNH TOÀN DIỆN CHO XE TẢI, XE BUÝT ĐƯỜNG DÀI, XE LỬA, XE HAI BÁNH VÀ TÀU THỦY

ĐỀ XUẤT BỔ SUNG PHƯƠNG TIỆN SỬ DỤNG HYDRO VÀ AMMONIA VÀO QUYẾT ĐỊNH 876/QĐ-TTG: LỘ TRÌNH TOÀN DIỆN CHO XE TẢI, XE BUÝT ĐƯỜNG DÀI, XE LỬA, XE HAI BÁNH VÀ TÀU THỦY

    ĐỀ XUẤT BỔ SUNG PHƯƠNG TIỆN SỬ DỤNG HYDRO VÀ AMMONIA VÀO QUYẾT ĐỊNH 876/QĐ-TTG: LỘ TRÌNH TOÀN DIỆN CHO XE TẢI, XE BUÝT ĐƯỜNG DÀI, XE LỬA, XE HAI BÁNH VÀ TÀU THỦY

    Ngày 09 tháng 06 năm 2026 | Ban Thư ký VAHC

    Mở đầu

    Quyết định số 876/QĐ-TTg ngày 22/7/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hành động về chuyển đổi năng lượng xanh, giảm phát thải khí metan của ngành giao thông vận tải đặt mục tiêu đến năm 2050, 100% phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, đầu máy toa xe đường sắt, phương tiện thủy nội địa chuyển đổi sang sử dụng điện, năng lượng xanh. Tuy nhiên, văn bản này hoàn toàn không đề cập đến xe hydro (Hydrogen Fuel Cell Vehicle – FCV) và tàu thủy chạy hydro hoặc ammonia, mặc dù đây là những công nghệ đang được các nước tiên phong đẩy mạnh.

    Bài viết này đề xuất bổ sung 04 loại xe hydro (xe tải nặng, xe buýt đường dài, xe lửa, xe hai bánh) và tàu thủy (pin nhiên liệu hydro, động cơ đốt trong hydro, ammonia, retrofit phun H2) vào Quyết định 876, kèm tính toán sơ bộ hiệu quả kinh tế và giảm phát thải khi chuyển đổi 10% xe máy sang hydro.

    I. Khoảng trống của Quyết định 876/QĐ-TTg

    Quyết định 876 tập trung chủ yếu vào xe điện (EV) và nhiên liệu sinh học, bỏ qua công nghệ hydro. Xe điện không thể giải quyết triệt để các bài toán: xe tải hạng nặng đường dài (thời gian sạc quá dài, pin quá nặng), xe buýt liên tỉnh, xe lửa trên các tuyến chưa điện khí hóa, xe hai bánh cần trữ năng lượng cao hơn xe đạp điện, và tàu thủy cỡ lớn. Do đó, cần bổ sung hydro và các dẫn xuất (ammonia) vào lộ trình.

    II. Đề xuất bổ sung 04 loại xe hydro

    A. Xe tải nặng chạy hydro (HDV)

    Tại Trung Quốc, giai đoạn 1-11/2025 đã có 13 dự án giao nhận xe tải hydro thực tế, vận tải than, container cảng biển và hành lang liên tỉnh. Tháng 12/2025, Rongcheng Xinneng giao 65 xe tải hydro cho cảng Thiên Tân.

    Đề xuất lộ trình: Đến 2030, 10% xe tải nặng đầu kéo mới là xe hydro; đến 2040 đạt 50% ở các tỉnh có lợi thế năng lượng tái tạo; đến 2050 đạt 100%.

    Honda and Dongfeng Launch Hydrogen Truck Trials in Wuhan

    Xe tải nặng Dongfeng sử dụng công nghệ pin nhiên liệu hydrogen của Honda

    B. Xe buýt đường dài chạy hydro

    Trung Quốc đã vận hành xe buýt hydro tại Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Đông với quãng đường 300-400 km mỗi lần nạp.

    Đề xuất lộ trình: Đến 2030, 15% xe buýt liên tỉnh là xe hydro; đến 2040 đạt 50%; đến 2050 đạt 100%.

    C. Xe lửa chạy hydro

    Trung Quốc đã vận hành đầu máy xe lửa hydro tại Quý Châu, kéo tải hơn 4.500 tấn, quãng đường 140-150 km/lần nạp. CRRC phát triển tàu khách hydro tốc độ 200 km/h.

    Đề xuất lộ trình: Đến 2030, thí điểm 10 tuyến xe lửa hydro; đến 2040 thay thế 50% đầu máy diesel; đến 2050 đạt 100%.

    D. Xe hai bánh chạy hydro

    Xe máy chiếm 60-70% phương tiện tại Việt Nam. Công nghệ xe máy hydro đã có mặt tại Trung Quốc với vận tốc 160 km/h, quãng đường 300 km, thời gian nạp 2 phút.

    Tính toán sơ bộ: 10% xe máy chuyển đổi sang hydro

    • Tổng số xe máy Việt Nam: 45 triệu xe (2025)

    • 10% chuyển đổi: 4,5 triệu xe

    • Mức tiêu thụ hydro: 0,2 kg/100 km, mỗi xe 5.000 km/năm → 45.000 tấn hydro/năm

    Thị trường sản xuất hydro sạch: Cần nhà máy điện phân công suất ~250 MW, vốn đầu tư 500-750 triệu USD. Có thể đặt tại Ninh Thuận, Bình Thuận, Tây Nguyên để tận dụng điện tái tạo.

    Thị trường lưu trữ và vận chuyển: Chi phí vận chuyển 8,5-9 NDT/kg trong bán kính 100 km. Quy mô thị trường logistics hydro: khoảng 550-600 triệu NDT/năm (1.900-2.000 tỷ VNĐ).

    Thị trường trạm nạp hydro: Cần 900 trạm (mỗi trạm phục vụ 5.000 xe). Tổng vốn đầu tư ~2,25 tỷ USD (52.000 tỷ VNĐ). Doanh thu vận hành 2,25 tỷ USD/năm, lợi nhuận gộp ~1,8 tỷ USD/năm.

    Giảm phát thải: 4,5 triệu xe máy xăng thải ra 1,125 triệu tấn CO₂/năm. Chuyển sang hydro xanh giúp giảm hoàn toàn lượng này, đồng thời giảm bụi mịn, NOₓ, HC.

    United Hydrogen ra mắt xe hai bánh chạy pin nhiên liệu hydrogen, tầm hoạt  động lên tới 100 km

    Xe 2 bánh pin nhiên liệu hydrogen của United Hydrogen

    III. Đề xuất bổ sung tàu thủy chạy hydro và ammonia

    Giao thông thủy (nội địa và hàng hải) đang phát thải lớn. Công nghệ hydro và ammonia cho tàu đã phát triển mạnh:

    A. Tàu pin nhiên liệu hydro (Fuel Cell Ship)

    • Tàu container 64 TEU “Dong Fang Qing Gang” (Trung Quốc) vận hành từ 5/2026, giảm 700 tấn CO₂/năm.

    • Tàu bulk carrier 4.000 tấn của GMI Rederi (Na Uy) lắp pin nhiên liệu tổng công suất +3 MW.

    • Proteus Energy (Singapore) phát triển hệ thống pin nhiên liệu cho tàu ven biển, công suất 75 kW mỗi stack.

    B. Tàu sử dụng ammonia (dẫn xuất của hydro)

    Ammonia không phát thải CO₂, dễ hóa lỏng, mật độ năng lượng cao.

    • VINSSEN (Hàn Quốc) + Samsung Heavy + Amogy phát triển hệ thống “Ammonia-to-Power Pack” 1 MW.

    • WinGD, Wärtsilä, Daihatsu phát triển động cơ dual-fuel ammonia, nhận đơn đặt hàng đầu tiên.

    C. Tàu động cơ đốt trong hydro (Hydrogen Internal Combustion Engine – HyICE)

    • Dự án H4PERION (Horizon Europe) trình diễn trên tàu Aurora Botnia với động cơ RCCI đạt hiệu suất 55%, phát thải gần bằng 0.

    • Tàu nội địa 800 tấn của Thượng Hải sử dụng LOHC (lưu trữ hydro hữu cơ lỏng) dự kiến hạ thủy 2026.

    D. Công nghệ retrofit: phun hydro bổ trợ cho động cơ diesel

    Giải pháp đặc biệt phù hợp với đội tàu cũ lớn của Việt Nam.

    • Công ty Newlight hoàn thành thử nghiệm retrofit hydro trên động cơ 2 kỳ và 4 kỳ, được RINA chứng nhận.

    • Hệ thống H2-diesel dual fuel giúp giảm 50-70% tiêu thụ diesel, giảm tương ứng CO₂, bụi mịn, SOx.

    Đề xuất lộ trình bổ sung cho đường thủy và hàng hải:

    • 2026–2030: Xây dựng tiêu chuẩn; thí điểm 10 tàu pin nhiên liệu hydro nội địa, 5 tàu chạy ammonia; retrofit 100 động cơ tàu cá xa bờ và tàu công trình bằng H2-diesel dual fuel.

    • 2031–2040: Mở rộng đóng mới tàu hydro/ammonia; xây dựng trạm tiếp nhận hydro lỏng, ammonia tại 3-5 cảng lớn (Hải Phòng, Đà Nẵng, Cái Mép – Thị Vải).

    • 2041–2050: 100% tàu nội địa, tàu ven biển, tàu công trình chuyển đổi; 50% tàu biển mang cờ Việt Nam đạt chuẩn không carbon.

    IV. Sửa đổi, bổ sung Quyết định 876/QĐ-TTg

    Cần bổ sung các nội dung sau:

    1. Mục 3 (Lộ trình chuyển đổi): Thêm phân mục cho xe hydro và tàu hydro/ammonia với các mốc thời gian cụ thể như trên.

    2. Mục 4 (Nhiệm vụ và giải pháp): Giao Bộ KHCN, Bộ Công Thương, Bộ Xây Dựng nghiên cứu, chuyển giao công nghệ sản xuất, lưu trữ, vận chuyển hydro; xây dựng trạm nạp; sản xuất xe hydro, tàu hydro/ammonia; hỗ trợ retrofit H2-diesel.

    3. Mục 5 (Cơ chế tài chính): Miễn thuế nhập khẩu thiết bị điện phân, trạm nạp; hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp sản xuất xe/tàu hydro; quỹ phát triển hạ tầng hydro/ammonia từ NSNN và PPP.

    4. Phụ lục: Bổ sung nhiệm vụ “Xây dựng chương trình quốc gia về phát triển xe và tàu hydro giai đoạn 2026-2035” do Bộ Xây Dựng chủ trì.

    Kết luận

    Việc bổ sung xe tải nặng, xe buýt đường dài, xe lửa, xe hai bánh, cùng với tàu thủy sử dụng hydro và ammonia vào Quyết định 876/QĐ-TTg là cần thiết để Việt Nam bắt kịp xu thế toàn cầu. Tính toán cho thấy chỉ riêng 10% xe máy chuyển đổi sang hydro đã tạo ra thị trường 45.000 tấn hydro/năm, 900 trạm nạp với tổng vốn đầu tư 2,25 tỷ USD, doanh thu 2,25 tỷ USD/năm, lợi nhuận 1,8 tỷ USD/năm, và giảm 1,125 triệu tấn CO₂/năm. Công nghệ retrofit phun H2 vào động cơ diesel giúp tận dụng đội tàu hiện hữu, giảm phát thải nhanh với chi phí thấp. Hợp tác quốc tế với Hàn Quốc, Na Uy, Trung Quốc, Singapore sẽ giúp Việt Nam thí điểm và nhân rộng mô hình, hiện thực hóa cam kết phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.

    Zalo
    Hotline