Châu Âu đã xây dựng hạ tầng hydro thay vì lưới điện mà họ thực sự cần
Ngày 17 tháng 1 năm 2026
Đoạn đường ống hydro vừa hoàn thành của Đức — dài khoảng 400 km nhưng không có nhà cung cấp cũng như khách hàng, một “đường ống từ hư không đến hư không” — không phải là hiện tượng cá biệt của riêng Đức. Đây là một trường hợp điển hình cho thấy chính sách khử carbon thất bại khi hạ tầng được xây dựng trước nhu cầu thực tế.
“Mạng lưới hydro xương sống” của châu Âu được biện minh bằng niềm tin rằng có đường ống thì thị trường sẽ tự hình thành. Nhưng hệ thống năng lượng không vận hành theo logic đó. Nhu cầu luôn đi theo giá thành và độ tin cậy, chứ không đi theo lượng thép được chôn dưới đất.
Với chi phí 8–12 euro/kg hydro xanh, hydro không thể cạnh tranh với điện hóa trực tiếp, ngay cả khi giá điện ở mức 0,20 euro/kWh, chưa nói đến mức giá điện công nghiệp mới của Đức chỉ khoảng 0,06 euro/kWh. Không có dung lượng đường ống nào có thể thay đổi phép toán kinh tế này. Khi hạ tầng được xây dựng mà không có hợp đồng tiêu thụ ràng buộc, rủi ro sẽ được chuyển từ nhà đầu tư tư nhân sang người tiêu dùng và người nộp thuế. Tại Đức, chi phí đường ống hydro hiện đã được tính vào biểu giá điện được điều tiết, làm tăng giá điện cho toàn xã hội.
Lập luận này không áp dụng cho lưới truyền tải điện. Nhu cầu điện rộng khắp và liên tục tăng đã tồn tại sẵn trong hộ gia đình, công nghiệp, giao thông và hạ tầng số. Xe điện, bơm nhiệt, trung tâm dữ liệu và điện hóa công nghiệp đều kết nối vào một hệ thống lưới đang phục vụ hàng nghìn tỷ kWh mỗi năm. Khi lưới truyền tải được xây dựng đi trước nhu cầu, giá trị được tạo ra ngay lập tức: giảm tắc nghẽn, cắt giảm công suất tái tạo bị cắt bỏ, tăng độ tin cậy và hạ giá điện bán buôn.
Châu Âu đã biết rằng điện hóa sẽ khiến nhu cầu điện tăng 40–70% vào giữa thế kỷ này. Điều đó lẽ ra phải kích hoạt việc mở rộng lưới điện sớm hơn. Thay vào đó, xây dựng lưới điện lại chậm hơn triển khai năng lượng tái tạo. Ở Đức, có những năm hơn 6 TWh điện sạch bị cắt bỏ vì lưới không thể truyền tải điện từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ. Lượng điện bị lãng phí này sau đó lại được dùng để biện minh cho sản xuất hydro — trong khi thực chất đây là vấn đề của lưới điện, chứ không phải bằng chứng của dư thừa điện.
Trung Quốc và Ấn Độ đi theo con đường khác. Cả hai quốc gia đều xây dựng các hành lang truyền tải lớn đi trước nhu cầu, chấp nhận giai đoạn sử dụng chưa đầy tải như một đặc tính tất yếu. Trung Quốc đã giảm tỷ lệ cắt giảm điện gió và mặt trời từ mức hai chữ số xuống mức thấp một chữ số, trong khi vẫn tiếp tục mở rộng công suất nhanh chóng. Ấn Độ gắn chặt mở rộng lưới điện với mục tiêu năng lượng tái tạo, nhờ đó hạn chế tài sản bị mắc kẹt.
Bài học chính sách rất rõ ràng: tư duy “xây hạ tầng trước” chỉ hiệu quả khi nhu cầu là có thật và đang tăng lên.
Điện đáp ứng điều kiện đó.
Hydro cho mục đích năng lượng thì không.

