VIỆN NGHIÊN CỨU MITSUBISHI ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CHI PHÍ HYDRO NỘI ĐỊA TỪ ĐIỆN GIÓ NGOÀI KHƠI
23/4/2026 – Annie Nguyễn biên tập

Mitsubishi Research Institute (MRI) đã công bố báo cáo nghiên cứu về tiềm năng phát triển hydro xanh sản xuất trong nước từ điện gió ngoài khơi, trong đó phân tích chi phí và khả năng cạnh tranh so với hydro nhập khẩu.
So sánh chi phí: nội địa vs nhập khẩu
Báo cáo đánh giá ba kịch bản cung cấp hydro:
- Sản xuất trong nước trên bờ
- Sản xuất ngoài khơi (kết hợp điện gió ngoài khơi)
- Nhập khẩu hydro xanh (vận chuyển bằng tàu hydro hóa lỏng)
Kết quả cho thấy:
- Hydro nội địa (trên bờ): khoảng 94 – 150 yên/Nm³
→ tương đương 0,9 – 1,7 lần so với hydro nhập khẩu (90 – 102 yên/Nm³) - Hydro ngoài khơi: khoảng 149 – 207 yên/Nm³
→ tương đương 1,5 – 2,3 lần so với hydro nhập khẩu
Vai trò trong chiến lược trung hòa carbon
Theo MRI, để đạt mục tiêu trung hòa carbon vào năm 2050, cần đồng thời:
- Khử carbon trong sản xuất điện
- Khử carbon trong nhiên liệu
Trong đó, hydro xanh từ điện gió ngoài khơi được xem là một giải pháp tiềm năng, đặc biệt khi quy mô phát triển điện gió ngoài khơi ngày càng lớn.
Giá trị vượt ngoài chi phí
Dù chi phí hiện tại còn cao hơn nhập khẩu, MRI cho rằng hydro nội địa vẫn có ý nghĩa chiến lược, bao gồm:
- Tăng cường an ninh năng lượng
- Giảm phụ thuộc vào chuỗi cung ứng quốc tế
- Tạo giá trị kinh tế trong nước
Đáng chú ý, báo cáo cũng xem xét tác động của biến động địa chính trị (bao gồm xung đột liên quan đến Mỹ – Trung Đông) đối với giá năng lượng, qua đó cho thấy hydro nội địa có thể trở nên cạnh tranh hơn trong một số kịch bản.

Hướng đi chính sách và công nghệ
MRI đề xuất cần tiếp tục thảo luận và định hướng rõ hơn về:
- Mục tiêu triển khai hydro nội địa
- Khu vực ưu tiên phát triển
- Lộ trình giảm chi phí công nghệ
Kết luận
Báo cáo của MRI cho thấy một thông điệp quan trọng:
hydro sản xuất trong nước từ điện gió ngoài khơi có thể chưa rẻ nhất, nhưng mang giá trị chiến lược dài hạn về an ninh năng lượng và phát triển kinh tế.
Giải thích ảnh 1:
So sánh phân tích chi phí cung cấp hydro xanh – 3 trường hợp
Trường hợp ①
Hydro xanh sản xuất trong nước (P2G trên đất liền)
-
Điện gió ngoài khơi
-
Truyền tải điện (100 km)
-
Ngoài khơi → Trên đất liền
-
Trên đất liền
Trường hợp ②
Hydro xanh sản xuất trong nước (P2G ngoài khơi)
-
Điện gió ngoài khơi
-
Sản xuất từ nước biển
-
Ngoài khơi
-
Tiếp nhận nước biển
-
Trên đất liền
Trường hợp ③
Hydro xanh nhập khẩu (P2G trên đất liền)
-
Trên đất liền / ngoài khơi
-
Ngoài khơi
-
Sản xuất từ nước biển (10.000 km)
-
Tàu vận chuyển hydro lỏng
-
Ngoài khơi
-
Trên đất liền
-
Tiếp nhận nước biển
Giải thích ảnh 2:
Kết quả phân tích chi phí cung cấp hydro xanh
① Hydro xanh sản xuất trong nước (P2G trên đất liền) ※1
(Điện gió ngoài khơi → Cáp ngầm dưới biển → P2G trên đất liền)
➜ 94 - 150 yên/Nm³
(gấp 0,9 - 1,7 lần so với hydro xanh nhập khẩu)
② Hydro xanh sản xuất trong nước (P2G ngoài khơi) ※1
(Điện gió ngoài khơi → P2G ngoài khơi → Tàu vận chuyển hydro lỏng)
➜ 149 - 207 yên/Nm³
(gấp 1,5 - 2,3 lần so với hydro xanh nhập khẩu)
③ Hydro xanh nhập khẩu (P2G trên đất liền) ※2
(Năng lượng tái tạo nói chung / P2G trên đất liền / Tàu vận chuyển hydro lỏng)
➜ 90 - 102 yên/Nm³
※1 Trường hợp chi phí điện tại đầu nguồn phát điện (chưa bao gồm chi phí thiết bị truyền tải, biến áp và khấu hao) là 10 - 20 yên/kWh
※2 Trường hợp chi phí điện tại đầu nguồn phát điện (chưa bao gồm chi phí thiết bị truyền tải, biến áp và khấu hao) là 3 - 5 yên/kWh
Ví dụ về các yếu tố giảm chi phí trong tương lai
-
Nâng cao hiệu suất chuyển đổi sang hydro
-
Chia sẻ thiết bị xếp dỡ hàng giữa các dự án
-
Mua điện dư thừa
-
Giảm chi phí nhờ tiến bộ công nghệ đối với từng thiết bị cấu thành
-
Tận dụng sản phẩm phụ của P2G (tận dụng nhiệt thải, tận dụng oxy phụ sinh)

