Nghiên cứu cho thấy giá điện liên quan đến phát thải khí nhà kính như thế nào
Tác giả: Aaron Kupec, Đại học Massachusetts Amherst

Nguồn: Unsplash/CC0 Public Domain
Một nghiên cứu mới từ Đại học Massachusetts Amherst đã thiết lập mối liên hệ giữa số tiền mà các hộ gia đình ở Hoa Kỳ phải trả cho điện và lượng khí thải nhà kính (GHG) từ sản xuất điện.
Phân tích dữ liệu từ 48 tiểu bang liền kề từ năm 1990 đến năm 2017, nghiên cứu được công bố trên Tạp chí Kinh tế Tài nguyên và Năng lượng cho thấy việc tăng 1% giá điện dân dụng chỉ giúp giảm 0,6% lượng khí thải trong ngắn hạn thông qua các biện pháp như điều chỉnh bộ điều chỉnh nhiệt độ, tắt đèn và sử dụng ít thiết bị hơn. Tuy nhiên, cùng mức tăng giá đó đã giúp giảm đáng kể 5,2% lượng khí thải trong dài hạn thông qua việc áp dụng các thiết bị tiết kiệm năng lượng hơn, nâng cấp hệ thống sưởi ấm và làm mát, và cách nhiệt tốt hơn.
Maryam Feyzollahi và Nima Rafizadeh, nghiên cứu sinh tiến sĩ tại Khoa Kinh tế Tài nguyên thuộc Đại học Massachusetts Amherst, đã xác định rằng, trung bình, các hộ gia đình mất khoảng chín năm để thích nghi hoàn toàn với mức giá điện cao hơn. Điều này cho thấy các quyết định về chính sách năng lượng được đưa ra hiện nay có thể chưa phát huy hết tác dụng cho đến khoảng năm 2034.
Nhu cầu điện dân dụng chiếm khoảng 40% tổng mức tiêu thụ điện tại Hoa Kỳ. Ngành điện chiếm khoảng 25% lượng khí thải GHG trên toàn quốc.
Feyzollahi và Rafizadeh đã tạo ra một thước đo mới gọi là Độ co giãn giá điện dân dụng của khí thải GHG (REPE-GHG). Thước đo này ghi lại toàn bộ phản ứng dây chuyền từ thay đổi giá đến kết quả phát thải, vượt qua những thách thức lâu nay trong việc đo lường tác động của giá cả đối với cả mức tiêu thụ và lượng khí thải.
"Phương pháp của chúng tôi tích hợp cả hai vế của phương trình - phản ứng của cầu và cường độ phát thải từ phía cung - mang lại bức tranh toàn cảnh về hậu quả môi trường của các chính sách giá", Feyzollahi giải thích.
Nghiên cứu cũng phát hiện ra sự chênh lệch lớn giữa các khu vực. Các tiểu bang ở Trung Tây và Nam có mức độ nhạy cảm về giá cao hơn nhiều so với các tiểu bang ở Đông Bắc, chủ yếu do sự khác biệt về nguồn phát điện. Các khu vực phụ thuộc nhiều vào nhiên liệu hóa thạch đã chứng kiến mức giảm phát thải lớn hơn khi mức tiêu thụ giảm do giá tăng.
Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy mối quan hệ giữa giá điện và lượng khí thải GHG đã suy yếu, đặc biệt là sau năm 2005. Xu hướng này trùng khớp với những thay đổi lớn trong lĩnh vực năng lượng, bao gồm sự gia tăng của năng lượng tái tạo, giá khí đốt tự nhiên giảm do công nghệ thủy lực phá vỡ đá phiến và việc áp dụng rộng rãi các công nghệ tiết kiệm năng lượng.
"Tôi muốn nhấn mạnh rằng mặc dù nghiên cứu của chúng tôi cho thấy hiệu quả giá đang giảm, nhưng điều này không có nghĩa là các tín hiệu giá không còn liên quan", Rafizadeh cảnh báo. "Thay vào đó, nó cho thấy chúng ta cần các cơ chế định giá thông minh hơn, phối hợp với các chính sách khác để định hướng quá trình chuyển đổi năng lượng sạch một cách hiệu quả."
Các cơ chế đó có thể bao gồm từ định giá theo thời gian sử dụng đến phí theo nhu cầu và có thể được kết hợp với các chính sách như chương trình hoàn tiền thiết bị hoặc tài trợ cho việc nâng cấp hiệu suất.
Feyzollahi và Rafizadeh lập luận rằng việc tùy chỉnh giá điện và chính sách khí hậu theo khu vực có thể mang lại kết quả hiệu quả hơn so với cách tiếp cận quốc gia áp dụng chung một khuôn khổ.
"Những gì hiệu quả ở Texas có thể không hiệu quả ở Massachusetts", Feyzollahi lưu ý, "do sự khác biệt về sản lượng, cơ cấu nguồn điện và cấu trúc thị trường."
Thông tin thêm: Maryam Feyzollahi và cộng sự, Mối quan hệ giá-phát thải trong thị trường điện dân dụng Hoa Kỳ, Kinh tế Tài nguyên và Năng lượng (2025). DOI: 10.1016/j.reseneeco.2025.101513

