Hàn Quốc dẫn đầu thể chế hóa nền kinh tế hydro: Phân tích toàn diện Luật Hydro 2024

Hàn Quốc dẫn đầu thể chế hóa nền kinh tế hydro: Phân tích toàn diện Luật Hydro 2024

    Hàn Quốc dẫn đầu thể chế hóa nền kinh tế hydro: Phân tích toàn diện Luật Hydro 2024

    Ngày: 31 tháng 5 năm 2026
    Annie Nguyễn

    Hàn Quốc đã chính thức đưa vào hiệu lực “Luật về Thúc đẩy Kinh tế Hydro và Quản lý An toàn Hydro” (gọi tắt là Luật Hydro) từ ngày 1 tháng 2 năm 2024, với bản sửa đổi mới nhất ngày 31 tháng 10 năm 2023.

    Gyeongbuk Province's Ambitious Energy Projects

    Đây không chỉ là một đạo luật đơn thuần, mà là một hệ thống chính sách tổng thể nhằm chuyển đổi toàn bộ nền kinh tế - xã hội Hàn Quốc sang kỷ nguyên năng lượng hydro.

    Bài viết này sẽ phân tích chi tiết cấu trúc, nội dung cốt lõi, cơ chế vận hành và ý nghĩa chiến lược của bộ luật này, qua đó rút ra bài học cho các quốc gia khác, bao gồm cả Việt Nam.

    Mục tiêu và định nghĩa nền tảng

    Điều 1 của Luật Hydro khẳng định mục đích rõ ràng: đóng góp vào sự phát triển của nền kinh tế quốc dân và bảo đảm an toàn công cộng thông qua việc tạo lập nền tảng thúc đẩy chuyển dịch sang nền kinh tế hydro, thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp hydro một cách hệ thống, và quy định các vấn đề liên quan đến quản lý an toàn hydro.

    Điều 2 cung cấp các định nghĩa then chốt.

    Khái niệm “nền kinh tế hydro” được hiểu là cấu trúc kinh tế - công nghiệp sử dụng hydro làm nguồn năng lượng chính, dẫn dắt những thay đổi căn bản trong toàn bộ nền kinh tế, xã hội và đời sống của người dân.

    “Ngành công nghiệp hydro” bao gồm toàn bộ chuỗi giá trị: sản xuất, lưu trữ, vận chuyển, nạp, bán hydro; các thiết bị sử dụng hydro như pin nhiên liệu, tuabin khí hydro; và sản xuất các sản phẩm, phụ tùng, vật liệu liên quan.

    Một định nghĩa đặc biệt quan trọng là “hydro sạch” (Điều 2, khoản 7-2, được bổ sung ngày 10 tháng 6 năm 2022).

    Hydro sạch được phân thành ba loại: hydro không carbon (zero-carbon hydrogen) – không phát thải khí nhà kính trong quá trình sản xuất; hydro carbon thấp (low-carbon hydrogen) – có mức phát thải dưới ngưỡng quy định; và hợp chất hydro carbon thấp phục vụ vận chuyển.

    Việc phân loại này tạo ra một khung pháp lý để khuyến khích sản xuất và sử dụng hydro thực sự xanh, đồng thời tạo điều kiện cho các công nghệ trung gian trong giai đoạn chuyển đổi.

    Cơ chế quản trị: Ủy ban Kinh tế Hydro và Kế hoạch cơ bản

    Luật Hydro thiết lập một cơ chế quản trị ở cấp cao nhất.

    Theo Điều 5, Bộ trưởng Bộ Thương mại, Công nghiệp và Năng lượng phải thiết lập “Kế hoạch cơ bản về chuyển dịch sang nền kinh tế hydro”.

    Kế hoạch này bao gồm: phương hướng cơ bản của chính sách, hoàn thiện thể chế, tạo lập nền tảng, huy động tài chính, kế hoạch lắp đặt cơ sở sản xuất và cung cấp nhiên liệu hydro, kế hoạch cung cầu hydro, thúc đẩy hydro sạch, và lồng ghép mục tiêu trung hòa carbon.

    Điều 6 thành lập “Ủy ban Kinh tế Hydro” trực thuộc Thủ tướng Chính phủ, do Thủ tướng làm Chủ tịch.

    Ủy ban có nhiệm vụ thẩm định các chính sách và kế hoạch trọng yếu, điều phối giữa các bộ ngành, kiến nghị cải thiện luật pháp, thúc đẩy hợp tác quốc tế và giải quyết khó khăn cho doanh nghiệp.

    Thành viên bao gồm lãnh đạo các bộ ngành liên quan và các chuyên gia từ doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu.

    Ủy ban có một Ủy ban Thực vụ (điều hành cấp cơ sở) do Bộ trưởng Bộ Thương mại, Công nghiệp và Năng lượng chỉ định, cùng một Đoàn Thúc đẩy Thực vụ Kinh tế Hydro đặt tại Bộ này.

    Cơ cấu tổ chức ba tầng (Ủy ban – Ủy ban Thực vụ – Đoàn Thúc đẩy) đảm bảo tính lãnh đạo chính trị cao nhất, sự điều phối liên ngành và năng lực thực thi cụ thể.

    Hỗ trợ doanh nghiệp chuyên về hydro và công cụ tài chính

    Chương 3 của Luật (Điều 9 đến Điều 18) dành riêng cho việc nuôi dưỡng và phát triển “Doanh nghiệp chuyên về hydro”.

    Doanh nghiệp được xác nhận là doanh nghiệp chuyên về hydro (Điều 11) sẽ được hưởng hàng loạt ưu đãi: hỗ trợ phát triển công nghệ, sử dụng chung trang thiết bị đắt tiền, ưu tiên gia nhập khu tổ hợp chuyên hóa, trợ cấp và cho vay ưu đãi (Điều 10), miễn giảm thuế quốc gia và địa phương (Điều 17), được thuê, sử dụng, mua tài sản công theo hình thức chỉ định thầu (Điều 18).

    Đặc biệt, Luật cho phép thành lập “Công ty đầu tư chuyên về hydro” (Điều 13 đến Điều 15).

    Công ty này phải đầu tư ít nhất 50% vốn điều lệ vào các doanh nghiệp chuyên về hydro, có thể vay vốn, thế chấp tài sản và bảo lãnh nợ không quá 30% vốn điều lệ khi được Đại hội đồng cổ đông phê duyệt.

    Đây là một cơ chế huy động vốn tư nhân rất mạnh mẽ, cho phép tạo ra các quỹ đầu tư tập trung vào toàn bộ hệ sinh thái hydro.

    Ngoài ra, Điều 16 cho phép các quỹ nhà nước và các quỹ tương đương đầu tư vào doanh nghiệp chuyên về hydro hoặc góp vốn vào công ty đầu tư chuyên về hydro, tạo ra nguồn lực công - tư kết hợp.

    Phát triển cơ sở hạ tầng và khu tổ hợp chuyên hóa

    Chương 4 (Điều 19 đến Điều 25) quy định về lắp đặt cơ sở cung cấp nhiên liệu hydro và các cơ sở liên quan.

    Điều 19 trao quyền cho Bộ trưởng Bộ Thương mại, Công nghiệp và Năng lượng yêu cầu người vận hành các khu kinh tế tự do, trạm dừng nghỉ trên cao tốc, khu công nghiệp… phải nộp kế hoạch lắp đặt cơ sở cung cấp nhiên liệu hydro.

    Điều 21 yêu cầu các cơ quan nhà nước, chính quyền địa phương, cơ quan công lập, doanh nghiệp công ích địa phương phải nộp kế hoạch lắp đặt pin nhiên liệu.

    Điều 22 cho phép Bộ trưởng chỉ định “Khu tổ hợp chuyên hóa về hydro” – nơi tập trung các doanh nghiệp hydro và cơ sở hỗ trợ, được cấp vốn, trang thiết bị, hỗ trợ phát triển và phổ biến xe điện hydro, pin nhiên liệu.

    Khu tổ hợp chuyên hóa có thể bị hủy chỉ định nếu sử dụng vốn hỗ trợ sai mục đích, không thực hiện điều kiện chỉ định, hoặc không còn đáp ứng tiêu chuẩn (Điều 23).

    Điều 24 cho phép thực hiện các dự án thí điểm trong một khu vực giới hạn trong một thời gian nhất định để nuôi dưỡng ngành công nghiệp hydro, thúc đẩy phổ biến dịch vụ, và các dự án cần thiết khác.

    Cơ chế thí điểm này rất quan trọng để thử nghiệm các công nghệ và mô hình kinh doanh mới trước khi mở rộng ra toàn quốc.

    Hydro sạch, phát điện hydro và cơ chế thị trường

    Chương 4-2 (Điều 25-2 đến Điều 25-8, được bổ sung ngày 10 tháng 6 năm 2022 và có hiệu lực từ ngày 31 tháng 5 năm 2027) là một trong những phần tiến bộ nhất của Luật.

    Điều 25-2 quy định về chứng nhận hydro sạch theo từng cấp độ, dựa trên lượng khí CO2 phát thải trong quá trình sản xuất, nhập khẩu.

    Hydro sạch được cấp chứng nhận được hiển thị nhãn mác và được hỗ trợ hành chính, tài chính, trong đó mức hỗ trợ khác nhau theo cấp độ.

    Việc chứng nhận có thể bị hủy nếu được cấp bằng gian dối, không còn phù hợp tiêu chuẩn, hoặc không sản xuất, nhập khẩu trong vòng một năm.

    Điều 25-3 yêu cầu nhà sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh hydro sạch phải khai báo sản lượng, khối lượng nhập khẩu, khối lượng bán và bên mua.

    Điều 25-4 cho phép chỉ định các cơ quan chứng nhận hydro sạch (tổ chức, pháp nhân đáp ứng tiêu chuẩn cơ sở vật chất).

    Điều 25-5 (có hiệu lực từ 31 tháng 5 năm 2027) trao quyền cho Bộ trưởng yêu cầu các đơn vị vận hành cơ sở cung cấp nhiên liệu hydro và một số chủ thể kinh doanh khác phải bán hoặc sử dụng hydro sạch với tỷ lệ tối thiểu.

    Điều 25-6 quy định về mua bán và cung cấp điện phát hydro.

    Bộ trưởng có thể yêu cầu các doanh nghiệp điện lực mua hoặc cung cấp điện phát hydro.

    Bộ trưởng có thể mở thị trường đấu thầu để lựa chọn đơn vị trúng thầu trong số các doanh nghiệp phát điện hydro.

    Các doanh nghiệp phát điện hydro và đơn vị mua cung cấp phải ký hợp đồng thông qua thị trường đấu thầu.

    Khối lượng mua cung cấp được xác định hằng năm dựa trên Kế hoạch cơ bản, kế hoạch cung cầu điện lực, hiện trạng lắp đặt cơ sở hydro, mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính quốc gia.

    Điều 25-7 cho phép chỉ định cơ quan quản lý thị trường đấu thầu (doanh nghiệp hydro hoặc tổ chức liên quan đến giao dịch điện lực đáp ứng tiêu chuẩn).

    Điều 25-8 quy định về tiền phạt vi phạm đối với các bên có nghĩa vụ bán hoặc sử dụng hydro sạch nếu không thực hiện.

    Mức phạt được tính bằng 150% chênh lệch giữa giá thị trường của hydro sạch cấp cao nhất và giá thị trường của hydro thông thường trong năm, nhân với phần thiếu hụt.

    Cơ chế này tạo ra một động lực kinh tế rất mạnh để tuân thủ, đồng thời tạo ra một thị trường hydro sạch có tính thanh khoản và minh bạch.

    Xây dựng nền tảng cho nền kinh tế hydro

    Chương 5 (Điều 26 đến Điều 35) tập trung vào các hoạt động hỗ trợ nền tảng.

    Điều 26 yêu cầu Chính phủ thiết lập các chính sách đào tạo nhân lực kỹ thuật chuyên môn, bao gồm xây dựng hệ thống đào tạo, hợp tác doanh nghiệp - trường đại học, đào tạo nhân lực cho lĩnh vực triển vọng tương lai, tái đào tạo nhân lực tại hiện trường.

    Điều 27 cho phép thúc đẩy các dự án tiêu chuẩn hóa sản phẩm, công nghệ, dịch vụ liên quan đến hydro.

    Điều 28 quy định việc lập và quản lý số liệu thống kê ngành công nghiệp hydro.

    Điều 29 khuyến khích hợp tác quốc tế và hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu, bao gồm giao lưu quốc tế, tiêu chuẩn hóa quốc tế, tổ chức triển lãm, tiếp thị ra nước ngoài.

    Điều 30 thúc đẩy phát triển công nghệ, bao gồm khảo sát xu hướng, nghiên cứu phát triển, đảm bảo quyền lợi và thương mại hóa.

    Điều 31 tập trung vào hình thành sự đồng thuận xã hội thông qua nâng cao nhận thức, giáo dục, quảng bá văn hóa thân thiện với hydrogen.

    Điều 31-2 (được bổ sung ngày 31 tháng 10 năm 2023) ấn định ngày 2 tháng 11 hằng năm là “Ngày Hydrogen” để tổ chức các sự kiện kỷ niệm, tạo sự đồng thuận xã hội.

    Điều 32 cho phép xây dựng và vận hành Hệ thống quản lý thông tin tổng hợp về ngành công nghiệp hydro và các dự án hydro.

    Điều 33 chỉ định “Cơ quan chuyên trách thúc đẩy ngành công nghiệp hydro” (có thể là cơ quan, tổ chức, pháp nhân liên quan) để thực hiện các dự án hỗ trợ chính sách, phân tích thành quả, khảo sát, đào tạo nhân lực, tiêu chuẩn hóa, nghiên cứu phát triển, kết nối doanh nghiệp.

    Cơ quan này có thể thực hiện các dự án kinh doanh tạo lợi nhuận để trang trải chi phí.

    Điều 34 chỉ định “Cơ quan chuyên trách phân phối hydrogen” để quản lý phân phối, giao dịch, duy trì giá hợp lý, quản lý cung cầu, giám sát, kiểm tra, hướng dẫn, quảng bá trật tự phân phối công bằng.

    Điều 35 chỉ định “Cơ quan chuyên trách an toàn hydrogen” để nghiên cứu tiêu chuẩn an toàn, phát triển công nghệ, giáo dục, quảng bá, hợp tác quốc tế, phòng ngừa tai nạn.

    Ba cơ quan chuyên trách này (thúc đẩy, phân phối, an toàn) tạo thành bộ máy thực thi chuyên nghiệp, độc lập và có trách nhiệm.

    Quản lý an toàn – trụ cột không thể thiếu

    Chương 6 (Điều 36 đến Điều 49) và Chương 7, Chương 8 quy định rất chi tiết về quản lý an toàn, giấy phép, kiểm tra, xử phạt.

    Điều 36 yêu cầu người muốn chế tạo sản phẩm hydro phải được cấp giấy phép từ chính quyền địa phương (Thị trưởng, Huyện trưởng, Trưởng quận).

    Giấy phép bị từ chối nếu gây cản trở phòng chống thiên tai, không đủ năng lực kỹ thuật và tài chính, không đảm bảo an toàn theo thẩm định của Tổng công ty An toàn Khí ga Hàn Quốc.

    Điều 37 quy định các lý do mất tư cách (ví dụ: người bị phá sản chưa được khôi phục quyền lợi, người bị kết án tù vì tội liên quan đến an toàn khí gas chưa qua 2 năm).

    Điều 38 yêu cầu nhà sản xuất sản phẩm hydro nước ngoài phải đăng ký với Bộ trưởng Bộ Thương mại, Công nghiệp và Năng lượng và thực hiện tái đăng ký định kỳ.

    Điều 39 yêu cầu khai báo bắt đầu, tạm ngừng, chấm dứt hoạt động kinh doanh.

    Điều 40 quy định về kế thừa địa vị doanh nghiệp trong trường hợp chuyển nhượng, thừa kế, sáp nhập.

    Điều 41 yêu cầu doanh nghiệp phải xây dựng “Quy định quản lý an toàn” bao gồm quy trình sản xuất, phương pháp kiểm tra nội bộ, có ý kiến của Tổng công ty An toàn Khí ga Hàn Quốc, và nộp cho chính quyền địa phương.

    Điều 42 yêu cầu bổ nhiệm “Người quản lý an toàn” và khai báo, trong trường hợp miễn nhiệm hoặc nghỉ việc phải bổ nhiệm người mới trong vòng 30 ngày.

    Điều 43 yêu cầu kiểm tra hoàn thành cơ sở sản xuất sản phẩm hydro trước khi sử dụng.

    Điều 44 yêu cầu kiểm tra sản phẩm hydro nhập khẩu hoặc sản xuất trong nước trước khi bán hoặc sử dụng, và cấm chuyển nhượng, cho thuê, sử dụng sản phẩm chưa được kiểm tra.

    Điều 45 quy định về đảm bảo an toàn: Bộ trưởng hoặc chính quyền địa phương có thể thu thập sản phẩm để kiểm tra, yêu cầu thu hồi, đổi trả, hoàn tiền nếu phát hiện khuyết tật nghiêm trọng; bắt buộc ghi nhãn nhà sản xuất, ngày sản xuất, mục đích sử dụng, phương pháp sử dụng; nghiêm cấm cải tạo sản phẩm hydro.

    Điều 46 yêu cầu tham gia giáo dục an toàn.

    Điều 47 yêu cầu cơ sở sử dụng nhiên liệu hydro phải đáp ứng tiêu chuẩn, được kiểm tra hoàn thành trước khi sử dụng, và kiểm tra định kỳ.

    Điều 48 cho phép Ủy ban Tiêu chuẩn Kỹ thuật Khí gas quy định các tiêu chuẩn chi tiết (quy cách cụ thể, giá trị số, phương pháp thử nghiệm), được Bộ trưởng phê duyệt và công bố.

    Điều 49 quy định về hủy giấy phép, đình chỉ hoặc hạn chế hoạt động kinh doanh trong thời hạn không quá 6 tháng đối với các vi phạm như: được cấp phép bằng gian dối, không bắt đầu kinh doanh trong 1 năm, gây nguy hại nghiêm trọng, vi phạm tiêu chuẩn cơ sở vật chất kỹ thuật, không bổ nhiệm người quản lý an toàn, không qua kiểm tra hoàn thành, không qua kiểm tra sản phẩm, không thực hiện lệnh thu hồi.

    Đối với nhà sản xuất nước ngoài, Bộ trưởng có thể hủy đăng ký hoặc hạn chế nhập khẩu trong thời hạn không quá 6 tháng nếu đăng ký bằng gian dối, không đáp ứng tiêu chuẩn, bán hoặc sử dụng khi chưa kiểm tra, không tuân thủ lệnh thu hồi.

    Quy định về giá, bảo hiểm và hành vi bị cấm

    Điều 50 yêu cầu doanh nghiệp bán hydro phải báo cáo giá bán cho Bộ trưởng, và Bộ trưởng có thể công khai giá bán (không xâm phạm bí mật kinh doanh) để nâng cao tính minh bạch. Doanh nghiệp phải niêm yết giá bán bằng bảng niêm yết.

    Điều 51 yêu cầu doanh nghiệp sản xuất sản phẩm hydro và người nhập khẩu phải tham gia bảo hiểm để bồi thường thiệt hại do tai nạn.

    Điều 52 nghiêm cấm các hành vi: bán hydro thiếu định lượng (vượt quá sai số cho phép); bán hydro bằng cách tăng thể tích bất chính (như tác động nhiệt nhân tạo); lắp đặt, cải tạo cơ sở kinh doanh nhằm mục đích gian lận; ngừng, giảm sản xuất hoặc hạn chế xuất kho, bán hàng không có lý do chính đáng.

    Thanh tra, xử phạt và điều khoản hình sự

    Điều 53 trao quyền thanh tra: yêu cầu báo cáo, nộp tài liệu; kiểm tra tại chỗ cơ sở kinh doanh, cơ sở sản xuất; công chức phải xuất trình giấy tờ chứng minh thẩm quyền.

    Điều 54 yêu cầu phải tổ chức điều trần trước khi hủy xác nhận doanh nghiệp chuyên về hydro, hủy chỉ định khu chuyên biệt, hủy chứng nhận hydro sạch, hủy chỉ định cơ quan chứng nhận, hủy chỉ định cơ quan quản lý thị trường đấu thầu, hủy chỉ định các cơ quan chuyên trách, hủy đăng ký của nhà sản xuất nước ngoài, và hủy giấy phép của chính quyền địa phương.

    Điều 55 quy định lệ phí cho các thủ tục cấp phép, đăng ký, chứng nhận, kiểm tra, giáo dục.

    Điều 56 cho phép ủy quyền và ủy thác một phần thẩm quyền cho chính quyền địa phương và các cơ quan chuyên trách, tổ chức chứng nhận, tổ chức quản lý, Tổng công ty An toàn Khí ga Hàn Quốc.

    Điều 57 quy định rằng thành viên không phải công chức của các ủy ban, cán bộ nhân viên của tổ chức chứng nhận, tổ chức quản lý, cơ quan chuyên trách, pháp nhân nhận ủy thác được xem là công chức khi áp dụng các điều khoản hình sự về hối lộ.

    Chương 8 (Điều 58 đến Điều 62) quy định các hình phạt.

    Điều 58: phạt tù không quá 5 năm hoặc phạt tiền không quá 50 triệu won đối với hành vi cải tạo sản phẩm hydro để bán, bán hydro thiếu định lượng, bán hydro tăng thể tích bất chính, lắp đặt cơ sở gian lận.

    Phạt tù không quá 3 năm hoặc phạt tiền không quá 30 triệu won đối với hành vi ngừng, giảm sản xuất hoặc hạn chế xuất kho, bán hàng không có lý do chính đáng.

    Điều 59: phạt tù không quá 2 năm hoặc phạt tiền không quá 20 triệu won đối với: được chứng nhận hydro sạch bằng gian dối; từ chối, cản trở kiểm tra; được chỉ định làm tổ chức chứng nhận bằng gian dối; thực hiện chứng nhận mà chưa được chỉ định; không báo cáo kết quả bán sử dụng hydro sạch; sản xuất sản phẩm hydro không phép.

    Phạt tù không quá 1 năm hoặc phạt tiền không quá 10 triệu won đối với: thay đổi nội dung đã cấp phép mà không xin phép thay đổi; không tuân thủ tiêu chuẩn cơ sở vật chất kỹ thuật; sử dụng cơ sở sản xuất chưa qua kiểm tra hoàn thành; bán hoặc sử dụng sản phẩm chưa qua kiểm tra; chuyển nhượng, cho thuê, trưng bày sản phẩm chưa kiểm tra.

    Phạt tù không quá 6 tháng hoặc phạt tiền không quá 5 triệu won đối với hành vi không ghi nhãn theo quy định.

    Điều 60: phạt tiền không quá 5 triệu won đối với doanh nghiệp không bổ nhiệm người quản lý an toàn, không khai báo miễn nhiệm. Phạt tiền không quá 3 triệu won đối với không tuân thủ lệnh thu hồi hoặc công bố.

    Điều 61: quy định xử phạt song song đối với pháp nhân và cá nhân (nếu đại diện hoặc nhân viên vi phạm, thì pháp nhân hoặc cá nhân đó cũng bị phạt tiền, trừ khi họ đã có biện pháp giám sát hợp lý).

    Điều 62: phạt hành chính không quá 10 triệu won đối với: sử dụng tên “Công ty đầu tư chuyên về hydro” trái phép; hiển thị nhãn chứng nhận hydro sạch giả mạo; không nộp quy định quản lý an toàn; sử dụng cơ sở nhiên liệu hydro chưa qua kiểm tra hoàn thành; sử dụng cơ sở chưa kiểm tra định kỳ; không báo cáo hoặc báo cáo sai giá bán; không niêm yết giá.

    Phạt hành chính không quá 3 triệu won đối với: không khai báo thay đổi bớt quan trọng; không khai báo bắt đầu, tạm ngừng, chấm dứt kinh doanh; không khai báo kế thừa; không thực hiện lệnh thay đổi quy định quản lý an toàn; vi phạm quy định quản lý an toàn; không bổ nhiệm người đại diện tạm thời cho người quản lý an toàn; không tham gia giáo dục an toàn; không cho lao động đi học an toàn; lắp đặt cơ sở sử dụng nhiên liệu hydro không đúng tiêu chuẩn; không tham gia bảo hiểm; không báo cáo hoặc báo cáo sai theo yêu cầu thanh tra.

    Đánh giá tổng thể và bài học cho Việt Nam

    Luật Hydro của Hàn Quốc là một trong những khung pháp lý toàn diện và tiên tiến nhất thế giới về phát triển nền kinh tế hydro.

    Điểm mạnh lớn nhất của luật này là tính hệ thống: nó không chỉ dừng lại ở khuyến khích công nghệ, mà còn xây dựng một hệ sinh thái hoàn chỉnh từ quản trị trung ương (Ủy ban do Thủ tướng đứng đầu), kế hoạch hóa chiến lược (Kế hoạch cơ bản 5 năm), cơ chế tài chính và đầu tư (công ty đầu tư chuyên về hydro, quỹ nhà nước), phát triển cơ sở hạ tầng (yêu cầu lắp đặt trạm nạp, pin nhiên liệu), thúc đẩy thị trường (chứng nhận hydro sạch, đấu thầu phát điện hydro, nghĩa vụ bán sử dụng), hỗ trợ doanh nghiệp (xác nhận doanh nghiệp chuyên về hydro, ưu đãi thuế, tài sản công), đào tạo nhân lực, tiêu chuẩn hóa, hợp tác quốc tế, xây dựng đồng thuận xã hội (Ngày Hydrogen), và đặc biệt là một hệ thống quản lý an toàn rất chặt chẽ, chi tiết đến từng sản phẩm, từng cơ sở, với các hình phạt nghiêm khắc.

    Cơ chế ba cơ quan chuyên trách (thúc đẩy, phân phối, an toàn) được chỉ định theo tiêu chuẩn rõ ràng, có thể thực hiện dự án kinh doanh tạo lợi nhuận để tự trang trải, là một mô hình tổ chức thực thi rất linh hoạt và bền vững.

    Các điều khoản có hiệu lực từ năm 2027 (chứng nhận hydro sạch, nghĩa vụ bán sử dụng, phạt vi phạm) cho thấy tầm nhìn dài hạn và lộ trình thực thi rõ ràng, tránh gây sốc cho thị trường.

    Đối với Việt Nam, đây là một tài liệu tham khảo vô cùng quý giá.

    Việt Nam đã có Chiến lược phát triển năng lượng hydrogen đến năm 2030, tầm nhìn 2050, nhưng còn thiếu một khung pháp lý tổng thể và chi tiết như Luật Hydro của Hàn Quốc.

    Các bài học cụ thể bao gồm: cần có một cơ quan điều phối quốc gia về hydrogen ở cấp rất cao (Thủ tướng hoặc Phó Thủ tướng); cần xây dựng một kế hoạch cơ bản quốc gia với các mục tiêu định lượng và lộ trình; cần có cơ chế xác nhận doanh nghiệp hydrogen để áp dụng ưu đãi; cần có các quỹ đầu tư mạo hiểm hoặc công ty đầu tư chuyên ngành để huy động vốn tư nhân; cần có quy định bắt buộc lắp đặt trạm nạp hydro tại các khu công nghiệp, trạm dừng nghỉ trên cao tốc; cần có cơ chế đấu thầu cho điện phát từ hydro; cần xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và quản lý an toàn ngay từ đầu; cần có lộ trình thực thi với các mốc thời gian cụ thể.

    Luật Hydro Hàn Quốc không phải là không có thách thức.

    Việc thực thi đòi hỏi nguồn lực hành chính lớn, sự phối hợp liên ngành rất chặt chẽ, và chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp có thể cao, đặc biệt là các yêu cầu về an toàn và chứng nhận.

    Tuy nhiên, với một nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu năng lượng như Hàn Quốc, và với tham vọng trở thành quốc gia dẫn đầu thị trường hydrogen toàn cầu, đây là một bước đi chiến lược đúng đắn.

    Tóm lại, Luật Hydro 2024 của Hàn Quốc là một kiệt tác lập pháp, cung cấp một khuôn khổ toàn diện, nhất quán và có tính khả thi cao để chuyển đổi toàn bộ nền kinh tế sang kỷ nguyên năng lượng hydro.

    Các quốc gia đang xây dựng chiến lược hydro, bao gồm Việt Nam, nên nghiên cứu kỹ lưỡng mô hình này, đặc biệt là cơ chế quản trị, cơ chế thị trường, và hệ thống quản lý an toàn, để từ đó thiết kế một khung pháp lý phù hợp với bối cảnh quốc gia của mình.

    Zalo
    Hotline