Bộ Công Thương đề xuất điều chỉnh kế hoạch năng lượng để hỗ trợ tăng trưởng hai chữ số
Ngày 12 tháng 2 năm 2026
Việt Nam đang rà soát lại quy hoạch tổng thể năng lượng quốc gia giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, nhằm đáp ứng các mục tiêu tăng trưởng cao hơn và thích ứng với những thay đổi trong quy hoạch và sự tiến bộ nhanh chóng của công nghệ.
Bộ Công Thương cho biết, quốc gia đã nâng mục tiêu tăng trưởng kinh tế lên mức tăng trưởng hai chữ số trong giai đoạn 2026-2030, làm thay đổi dự báo nhu cầu năng lượng và cần rà soát lại kế hoạch năng lượng quốc gia để đảm bảo nguồn cung năng lượng cho nền kinh tế.
Những thay đổi khác ảnh hưởng đến kế hoạch bao gồm quy hoạch không gian biển quốc gia, quy hoạch tổng thể quốc gia sửa đổi, kế hoạch phát triển điện lực điều chỉnh (PDP8) và điều chỉnh ranh giới hành chính sau khi sáp nhập các tỉnh, tất cả đều ảnh hưởng đến quy mô và cấu trúc không gian của quy hoạch năng lượng.
Sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học và công nghệ cũng đang định hình lại quy hoạch năng lượng theo Nghị quyết 57 ngày 22 tháng 12 năm 2024 của Bộ Chính trị về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Nghị quyết đề ra các nhiệm vụ phát triển cơ sở hạ tầng năng lượng, đặc biệt là năng lượng mới và năng lượng sạch, đồng thời đảm bảo an ninh năng lượng cho các ngành công nghiệp chiến lược.
Theo dự thảo kế hoạch, đã được công bố để lấy ý kiến đóng góp, Bộ nhấn mạnh tầm quan trọng của an ninh năng lượng quốc gia, với kỳ vọng nguồn cung đáp ứng nhu cầu để hỗ trợ tăng trưởng GDP bình quân tối thiểu 10% trong giai đoạn 2026-2030.
Tổng nhu cầu năng lượng cuối cùng được dự báo vào khoảng 120–130 triệu tấn dầu tương đương (toe) vào năm 2030 và 175–200 triệu toe vào năm 2050. Trữ lượng dầu mỏ, bao gồm dầu thô và các sản phẩm tinh chế, được đề xuất sẽ tăng lên tương đương khoảng 90 ngày nhập khẩu ròng vào năm 2030.
Bản dự thảo nhấn mạnh quá trình chuyển đổi năng lượng của đất nước, với năng lượng tái tạo dự kiến chiếm 25–30% tổng nguồn cung năng lượng sơ cấp vào năm 2030 và 70–80% vào năm 2050. Mục tiêu tiết kiệm năng lượng là 8–10% tổng mức tiêu thụ cuối cùng vào năm 2030 so với kịch bản thông thường.
Dự kiến lượng khí thải nhà kính sẽ giảm 15-35% vào năm 2030 so với mức cơ sở, với lượng khí thải từ ngành năng lượng ước tính đạt 433-474 triệu tấn CO2 tương đương vào năm 2030 và khoảng 101 triệu tấn vào năm 2050.
Sản lượng dầu thô trong giai đoạn 2026-2030 dự kiến đạt 5,8-8 triệu tấn/năm, trong khi sản lượng khí tự nhiên dự kiến đạt 5,4-11 tỷ mét khối mỗi năm. Bộ cũng có kế hoạch tăng cường năng lực nhập khẩu khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) để hỗ trợ các nhà máy điện khí và xây dựng các trung tâm năng lượng LNG trên khắp các vùng.
Bản dự thảo nêu rõ kế hoạch phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo và năng lượng mới, nhằm mục tiêu biến Việt Nam thành trung tâm công nghiệp và xuất khẩu năng lượng sạch trong khu vực, với các trung tâm năng lượng sạch được thành lập ở các vùng phía Bắc, Nam Trung Bộ và phía Nam. Mục tiêu sản lượng hydro xanh đạt 100.000–500.000 tấn/năm vào năm 2030, với tầm nhìn dài hạn là 10–20 triệu tấn/năm vào năm 2050.
Năng lượng tái tạo dự kiến sẽ cung cấp 30,9–39,2% sản lượng điện vào năm 2030, hướng tới 47% với sự hỗ trợ mạnh mẽ từ quốc tế theo khuôn khổ Chương trình Đối tác Chuyển đổi Năng lượng Công bằng (JETP), và đạt 67,5–71,5% vào năm 2050.
Dự thảo cũng đặt mục tiêu phát triển hai trung tâm công nghiệp và dịch vụ năng lượng tái tạo liên vùng vào năm 2030 và xuất khẩu 5.000–10.000 megawatt điện.// VNA

