Nhà sản xuất ô tô điện VinFast do Việt Nam sáng lập hiện đã có phạm vi hoạt động toàn cầu và có quan hệ đối tác với các công ty như BMW và Bosch.
Các công ty công nghệ đang dần điều chỉnh chuỗi cung ứng toàn cầu, chuyển một số dây chuyền sản xuất sang Việt Nam. Đất nước với hơn 97 triệu dân này đã thu hút làn sóng đầu tư nước ngoài mới trong những năm gần đây. Apple công bố kế hoạch thử nghiệm sản xuất đồng hồ thông minh và MacBook tại Việt Nam. Google đã chuyển hoạt động sản xuất điện thoại thông minh của mình từ miền Nam Trung Quốc sang đây. Lego đang đầu tư hơn 1 tỷ USD để xây dựng một nhà máy mới. Và Lenovo, Komatsu, Nintendo và Sharp đang mở rộng hoạt động sản xuất tại nước này.
Marko Walde, Trưởng Đại diện Phái đoàn Công nghiệp và Thương mại Đức tại Việt Nam (AHK Việt Nam) cho biết: “Chúng tôi đã chứng kiến những tiến bộ đáng kể trong môi trường đầu tư và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam”. “Mười năm trước, đất nước này là điểm đến đầu tư vào dệt may và chế biến kim loại. Bây giờ mọi người đều nói về đầu tư vào điện tử, cung cấp ô tô và công nghệ cao.”
Gần đây nhất, Việt Nam đã chào đón khoảng 50 công ty Hoa Kỳ thực hiện sứ mệnh khám phá các trung tâm sản xuất và chuỗi cung ứng toàn cầu đang phát triển trong lĩnh vực chất bán dẫn, hàng tiêu dùng nhanh, đồ chơi, đồ nội thất, thực phẩm và nông nghiệp, nền kinh tế kỹ thuật số, nền kinh tế sáng tạo, dịch vụ tài chính và chăm sóc sức khỏe.
Gabor Fluit, Chủ tịch Phòng Thương mại Châu Âu tại Việt Nam, cũng nhận thấy những thay đổi đáng kể trong diện mạo của đất nước, bằng chứng là sự tăng trưởng của đầu tư trực tiếp nước ngoài, hay FDI.
“Nếu bạn nhìn vào Việt Nam 20 năm trước, các mặt hàng xuất khẩu chính là dầu thô, gạo, cà phê và chè,” Fluit nói. “Kể từ những năm 2010, Việt Nam đã thu hút nhiều vốn FDI vào công nghiệp, dẫn đến doanh thu xuất khẩu cao hơn.”
Việt Nam hoàn toàn được hưởng lợi từ sự chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu và nếu có những chính sách đúng đắn, Việt Nam sẽ còn được hưởng nhiều lợi ích hơn nữa.
Trung Quốc Plus Một
Các doanh nghiệp quốc tế từ lâu đã nghiên cứu việc chuyển một phần đầu tư vào chuỗi cung ứng của họ sang các quốc gia khác ngoài Trung Quốc để tăng cường tính linh hoạt và khả năng phục hồi cho dây chuyền sản xuất. Nhưng phải đến khi cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung, do cựu Tổng thống Mỹ Donald Trump thúc đẩy, cuộc thảo luận nghiêm túc về chiến lược “Trung Quốc cộng một” mới bắt đầu xuất hiện. Sự ngờ vực ngày càng tăng giữa Trung Quốc và phương Tây, cùng với chính sách không có COVID của Trung Quốc (được nới lỏng vào đầu năm 2023), đã đặt ra nhiều thách thức hơn nữa đối với chuỗi cung ứng. Các công ty hiện đang theo đuổi việc đa dạng hóa chuỗi cung ứng, trong đó Việt Nam là một trong những quốc gia được hưởng lợi nhiều nhất. Năm 2022, tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam đạt 27,72 tỷ USD, tăng 13,5% so với năm trước.
“Việt Nam hoàn toàn được hưởng lợi từ sự dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu. Với những chính sách đúng đắn được áp dụng, đất nước sẽ được hưởng nhiều lợi ích hơn nữa”, Fluit nói.
Ông nói rằng sự kết hợp của nhiều yếu tố đã giúp đất nước được hưởng lợi từ tình trạng này. Thứ nhất, giống như thành viên ASEAN Singapore, Việt Nam đã chứng tỏ là nước rất ủng hộ doanh nghiệp với nhiều hiệp định thương mại tự do. Hiện nay, Việt Nam đã ký tổng cộng 17 hiệp định thương mại và là thành viên của nhiều hiệp định lớn khác, bao gồm Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương, Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực và Hiệp định Thương mại Tự do EU-Việt Nam. Thứ hai, với dân số lớn thứ ba trong ASEAN sau Indonesia và Philippines, Việt Nam cung cấp lao động chi phí tương đối thấp. Đất nước này hiện cũng có “dân số vàng” với khoảng 70% trong độ tuổi lao động. Và thứ ba, môi trường chính trị của đất nước rất ổn định trong thập kỷ qua.
Trong những yếu tố này và những yếu tố khác, Walde tìm thấy bằng chứng về việc Việt Nam sẵn sàng chào đón đầu tư nước ngoài và thấy rằng chiến lược đó mang lại kết quả.
Ông nói: “Tôi nghĩ Việt Nam luôn nằm trong số các quốc gia ASEAN hàng đầu về các công ty đang tìm kiếm đầu tư. “Có hơn 5.000 công ty Đức ở Trung Quốc và hơn một nửa trong số họ đang nghĩ đến chiến lược 'Trung Quốc cộng một'; 90% trong số đó đang tìm kiếm thị trường Đông Nam Á và cả Việt Nam và Thái Lan đều nằm trong số những lựa chọn hàng đầu.”

“Các nhà đầu tư ngày càng quan ngại về nguồn năng lượng nào sẽ được sử dụng cho dây chuyền sản xuất của họ tại Việt Nam.”
Mark Walde
Với làn sóng FDI vào lĩnh vực công nghệ đang tràn vào, các công ty đang hy vọng một môi trường kinh doanh tốt hơn nữa sẽ xuất hiện. Tuy nhiên, Chính phủ Việt Nam cần có nhiều sáng kiến và hành động hơn nữa để vượt qua những thách thức này.
Các công ty đa quốc gia đang tìm kiếm những bộ kỹ năng phù hợp. Theo khảo sát gần đây của EuroCham Việt Nam, chỉ 1/3 lãnh đạo doanh nghiệp châu Âu hài lòng với nguồn lao động hiện tại của đất nước về tính sẵn có và chất lượng. Các công ty nước ngoài thành lập cơ sở sản xuất các sản phẩm phức tạp như điện thoại di động thường đòi hỏi trình độ kỹ năng cao hơn. Thống kê của Tổ chức Lao động Quốc tế năm 2021 lưu ý rằng chỉ có 9% lực lượng lao động trẻ, đông đảo của Việt Nam được coi là “có tay nghề cao”. Việc làm có trình độ thấp và trung bình chiếm phần lớn cơ hội việc làm trong nước. Chính phủ Việt Nam đang thực hiện một số bước cần thiết để phát triển thị trường lao động trong nước, nhằm đạt được 30% lao động có tay nghề trong lực lượng lao động vào cuối năm 2025.
Walde cho biết: “Chúng tôi đang đầu tư dài hạn về vốn và thiết bị hiện đại, đồng thời chúng tôi cần các chuyên gia có đủ trình độ để xử lý và vận hành thiết bị của chúng tôi trong dây chuyền sản xuất”. Ông và AHK Việt Nam là những người đầu tiên đưa hệ thống giáo dục và đào tạo nghề của Đức vào Việt Nam, cung cấp đào tạo năng lực chuyên ngành cho các nhà đầu tư quốc tế và các doanh nghiệp Việt Nam hợp tác kinh doanh với các đối tác Đức.
Ông nói: “Thông thường, chúng tôi thấy các công ty Việt Nam chưa sẵn sàng trở thành đối tác với các công ty Đức vì họ chưa sở hữu đủ năng lực phù hợp”. “Vì vậy, điều quan trọng là đất nước phải cập nhật hệ thống đào tạo nghề quốc gia.”
Điều đáng lo ngại nữa là việc phát triển cơ sở hạ tầng logistics của đất nước vẫn là điểm nghẽn đối với nhiều nhà đầu tư ở Việt Nam mặc dù đã có những tiến bộ đáng kể trong hai thập kỷ qua. Trong khi chính phủ có kế hoạch nâng cấp cơ sở hạ tầng giao thông trên toàn quốc, việc xây dựng các dự án giao thông vẫn phải đối mặt với sự chậm trễ kéo dài.
Chẳng hạn, việc xây dựng sân bay Long Thành, với kinh phí ước tính 16 tỷ USD, lại tiếp tục bị trì hoãn đến năm 2026 do việc thu hồi đất chậm lại. Sân bay dự kiến sẽ được kết nối với một mạng lưới kết nối đường bộ và đường sắt rộng khắp.

Dòng chảy Gabor
Được định hình bởi ESG
Với số lượng chính phủ và công ty cam kết đạt mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 ngày càng tăng nhanh chóng, Châu Âu là quốc gia đi đầu trong việc đặt ra các mục tiêu ESG, nâng cao kỳ vọng về nỗ lực phát triển bền vững của doanh nghiệp và tác động đến cách các doanh nghiệp đầu tư vào Việt Nam.
Walde cho biết: “Các nhà đầu tư ngày càng lo ngại về loại nguồn năng lượng nào sẽ được sử dụng cho dây chuyền sản xuất của họ tại Việt Nam”. “Năng lượng xanh hiện không có sẵn ở trong nước và vẫn còn nhiều việc phải làm để phát triển ngành năng lượng tái tạo ở đây”.
Các nhà hoạch định chính sách ở Việt Nam đang nỗ lực loại bỏ dần việc sản xuất điện than như một phần của quá trình chuyển đổi sang năng lượng xanh. Nhưng một năm sau khi cam kết lượng khí thải carbon bằng 0 vào năm 2050 tại COP26, cơ cấu năng lượng vẫn chủ yếu là than và khí đốt. Việc triển khai các dự án năng lượng tái tạo bị chậm trễ phần lớn là do thiếu cơ chế chính sách.
Fluit thừa nhận những thách thức nhưng cho biết: “Việt Nam đầy tham vọng với quyết tâm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đạt được mức phát thải carbon bằng 0 vào năm 2050. Lãnh đạo đất nước biết rằng những mục tiêu như vậy sẽ đòi hỏi nhiều đầu tư hơn từ các khu vực khác trên thế giới và sự hợp tác chặt chẽ giữa các nước trên thế giới. khu vực công và tư nhân.”
Fluit cũng đồng ý rằng ESG đang tác động đến đầu tư nước ngoài vào nước này. Ông nói: “Hầu hết trong số 1.300 thành viên của chúng tôi đều có mục tiêu ESG và đang nỗ lực biến những mục tiêu này thành hành động cho doanh nghiệp của họ ở quy mô toàn cầu”. “Và Việt Nam cũng không ngoại lệ.
“Có rất nhiều tiềm năng để EU và Việt Nam chia sẻ chuyên môn và hợp tác trong quá trình chuyển đổi năng lượng xanh và phát triển năng lượng tái tạo. Điều tôi ấn tượng nhất là sự sẵn sàng của lãnh đạo Việt Nam trong việc gắn kết với các hiệp hội doanh nghiệp và lắng nghe phản hồi thông qua các cuộc họp thường kỳ và đối thoại cởi mở.”
Ở một mức độ nào đó, câu hỏi về năng lượng đặt ra một nghịch lý cho Việt Nam: Để thu hút thêm đầu tư nước ngoài, phải nhanh chóng chuyển đổi từ nhiên liệu hóa thạch; để mở rộng quá trình chuyển đổi đó một cách hiệu quả, nước này phải thu hút nhiều đầu tư nước ngoài hơn. Tuy nhiên, quốc gia này đã cho thấy sự sẵn sàng và khả năng thu hút FDI từ các công ty vì năng lượng xanh trong nước cũng như là điểm đến được lựa chọn cho các doanh nghiệp muốn đa dạng hóa khỏi Trung Quốc và Fluit tin rằng điều đó sẽ tiếp tục phát triển.
Quả thực, có rất nhiều cơ hội; đất nước có mọi thứ có lợi cho mình. Chính phủ Việt Nam có vai trò riêng của mình và sẽ cần thời gian để đạt được kết quả.


