Lộ trình phát triển hydrogen đến năm 2045 của Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV)
13/05/2026
Annie Nguyễn
Trong bối cảnh Việt Nam cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, hydrogen và amoniac xanh đang được xem là một trong những trụ cột năng lượng thay thế quan trọng trong quá trình chuyển dịch năng lượng quốc gia.

Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) đang xây dựng lộ trình phát triển hydrogen nhằm chuyển đổi dần mô hình tăng trưởng từ “carbon cao” sang “carbon thấp”, với định hướng tích hợp năng lượng tái tạo vào hệ sinh thái công nghiệp hiện hữu.
Theo nghiên cứu, Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) có lợi thế lớn để hình thành các cụm công nghiệp hydrogen tích hợp (hydrogen hubs). Hiện tập đoàn sở hữu hơn 41 triệu m² bãi thải và khu vực mỏ đã kết thúc khai thác, tạo nền tảng để phát triển các dự án điện mặt trời và điện gió với quy mô tiềm năng khoảng 3 đến 5 GW, phục vụ trực tiếp cho sản xuất hydrogen xanh bằng công nghệ điện phân nước.
Ngoài quỹ đất, Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) còn có lợi thế về hệ thống cảng biển, kho bãi và hạ tầng logistics tại Quảng Ninh, giúp giảm đáng kể chi phí vận chuyển, lưu trữ và trung chuyển hydrogen cũng như amoniac xanh.
Về nhu cầu, hydrogen được dự báo sẽ đóng vai trò ngày càng lớn trong nội bộ tập đoàn. Trong lĩnh vực hóa chất, Tổng công ty MICCO hiện tiêu thụ khoảng 13.500 tấn hydrogen mỗi năm thông qua amoniac nhập khẩu phục vụ sản xuất thuốc nổ công nghiệp.
Trong lĩnh vực điện lực, các nhà máy nhiệt điện than như Cẩm Phả, Na Dương và Cao Ngạn có thể chuyển sang đồng đốt amoniac, với nhu cầu quy đổi lên tới hơn 205.000 tấn hydrogen mỗi năm sau năm 2030. Ngoài ra, hydrogen còn có thể được sử dụng trong vận tải mỏ và các quy trình nhiệt luyện kim.
Lộ trình phát triển hydrogen của Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) được chia thành ba giai đoạn.
Đến năm 2030 tập trung xây dựng nền tảng pháp lý, triển khai các dự án thí điểm, đào tạo nhân lực, với mục tiêu sử dụng khoảng 19,3 nghìn tấn hydrogen mỗi năm.
Giai đoạn 2031 đến 2040 mở rộng quy mô thương mại, hình thành các cụm công nghiệp hydrogen tại Quảng Ninh và Tây Nguyên, đồng thời triển khai đồng đốt amoniac tại các nhà máy nhiệt điện than.
Đến năm 2045 hướng tới hoàn thiện chuỗi giá trị hydrogen xanh với công suất sản xuất khoảng 136.000 đến 494.000 tấn mỗi năm, đáp ứng nhu cầu nội bộ khoảng 233.630 tấn mỗi năm và từng bước tham gia thị trường xuất khẩu.

