Chính sách cấp phép khảo sát điện gió ngoài khơi tại Việt Nam – Trình bày của TS. Dư Văn Toán

Chính sách cấp phép khảo sát điện gió ngoài khơi tại Việt Nam – Trình bày của TS. Dư Văn Toán

    Chính sách cấp phép khảo sát điện gió ngoài khơi tại Việt Nam – Trình bày của TS. Dư Văn Toán

    Ngày 23 tháng 8 năm 2026
    Annie Nguyễn

    Tại Hội thảo Điện gió Việt Nam diễn ra ngày 22 tháng 8 năm 2026 tại Vũng Tàu, TS. Dư Văn Toán (Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển - IMHEMS) đã có bài trình bày chuyên sâu về "Chính sách cấp phép khảo sát điện gió ngoài khơi tại Việt Nam". Bài tham luận tập trung vào năm nội dung chính: các văn bản chính sách liên quan, hiện trạng cấp phép, nội dung khảo sát, những khó khăn vướng mắc, và các đề xuất kiến nghị.

    Tiến sĩ Dư Văn Toán tại một hội thảo ngành điện gió

    Khung pháp lý hiện hành

    TS. Dư Văn Toán đã điểm qua hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đang định hình cho lĩnh vực điện gió ngoài khơi (ĐGNK) tại Việt Nam, bao gồm:

    Luật Điện lực số 61/2024/QH15 (ngày 30/11/2024) là văn bản quan trọng nhất, lần đầu tiên đưa ra định nghĩa cụ thể về dự án ĐGNK: "Dự án điện gió trên biển gồm có toàn bộ tua bin điện gió được xây dựng trên vùng biển Việt Nam và nằm ngoài vùng biển 06 hải lý tính từ đường mép nước biển thấp nhất trung bình trong nhiều năm của đất liền về phía biển". Điều 27 của Luật quy định về khảo sát dự án ĐGNK, trong đó nhấn mạnh vai trò của doanh nghiệp nhà nước 100% vốn trong việc thực hiện khảo sát trước khi lựa chọn nhà đầu tư. Luật cũng quy định cơ chế xử lý chi phí khảo sát khi nhà đầu tư khác được lựa chọn, phải hoàn trả chi phí cho doanh nghiệp nhà nước đã thực hiện khảo sát.

    Nghị định 58/2025/NĐ-CP (ngày 03/3/2025) quy định chi tiết một số điều của Luật Điện lực về phát triển điện năng lượng tái tạo. Nghị định đặt ra chính sách cho các dự án ĐGNK trong tổng số 6.000 MW đến hết năm 2030. Điểm đáng chú ý là yêu cầu đơn vị khảo sát cam kết sử dụng nhân lực, hàng hóa, dịch vụ trong nước và cam kết không yêu cầu hoàn trả kinh phí trong mọi trường hợp. Nghị định quy định các nội dung khảo sát bao gồm: năng lượng gió, địa hình-địa chất đáy biển, hải dương học, hệ sinh thái biển, hàng hải, cáp ngầm và công trình dầu khí. Đáng chú ý, diện tích khu vực biển sử dụng để khảo sát ĐGNK tối đa 20 ha/1 MW (1 km²/5 MW), trong khi diện tích thực hiện dự án tối đa 5 ha/1 MW.

    Nghị định 65/2025/NĐ-CP (ngày 12/3/2025) sửa đổi các luật về Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo. Điều 14a quy định thời hạn giao khu vực biển để thực hiện hoạt động khảo sát tối đa không quá 03 năm. Hồ sơ xin phép khảo sát được quy định chi tiết, bao gồm đơn đề nghị, bản thuyết minh, văn bản chứng minh tư cách pháp nhân và sơ đồ khu vực biển với tọa độ, diện tích, độ sâu. Nghị định cũng yêu cầu trong vòng 10 ngày sau khi được phê duyệt chủ trương đầu tư, tổ chức/cá nhân phải nộp kết quả khảo sát chi tiết cho Cục Biển và hải đảo Việt Nam. Việc tháo dỡ thiết bị phải hoàn thành trong vòng 30 ngày kể từ khi kết thúc khảo sát.

    Thông tư 79/2025/TT-BNNMT (có hiệu lực từ 15/2/2026 đến 1/3/2027) quy định hồ sơ, trình tự, thủ tục giao doanh nghiệp nhà nước thực hiện khảo sát ĐGNK.

    Thông tư số 03/2025/TT-BTNMT (ngày 20/02/2025) quy định chi tiết phạm vi điều tra cơ bản về tài nguyên điện năng lượng tái tạo, bao gồm nội dung và mức độ điều tra, không gian điều tra, và xác định khu vực biển có độ sâu và khoảng cách phù hợp để lắp đặt tua-bin gió và truyền tải điện về bờ.

    Hiện trạng cấp phép khảo sát

    TS. Dư Văn Toán cho biết tính đến thời điểm hiện tại, Việt Nam đã cấp 16 giấy phép khảo sát biển phục vụ nghiên cứu khả thi dự án ĐGNK. Phân bổ theo năm: 2019 có 1 giấy phép, 2021 có 1, 2023 có 1, 2025 có 2, và đặc biệt 2026 đã có 11 giấy phép. Về đối tượng được cấp phép: có 4 giấy phép cho công ty nước ngoài (1 Anh, 2 Mỹ, 1 Nhật Bản), 4 giấy phép cho doanh nghiệp nhà nước (PVN 2, PTSC 1, EVN 1), và 8 giấy phép cho công ty tư nhân trong nước và liên doanh.

    Trong số các giấy phép đã cấp, có 3 giấy phép đã hết hạn, bao gồm: giấy phép của Công ty EE (Anh) tại mũi Kê Gà, Bình Thuận với diện tích 2.700 km²; giấy phép đo gió của Công ty cổ phần ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin tại Bến Tre với diện tích chỉ 36 m²; và giấy phép của PTSC/PVN tại Bà Rịa - Vũng Tàu với diện tích gần 1.900 km². Các giấy phép còn hiệu lực đều có thời hạn 36 tháng và được cấp cho các dự án với quy mô diện tích khác nhau, từ 1.300 ha đến 142.954 ha (cho dự án ĐGNK xuất khẩu của PTSC).

    Nội dung khảo sát ĐGNK

    TS. Dư Văn Toán trình bày rằng các hoạt động khảo sát chính bao gồm thu thập số liệu các yếu tố tự nhiên trên bờ và dưới biển trong khu vực dự án, nhằm cung cấp số liệu đầu vào cho việc thực hiện Đánh giá Tác động Môi trường (EIA/ĐTM) theo yêu cầu trong nước và Đánh giá Tác động Môi trường và Xã hội (ESIA) theo tiêu chuẩn quốc tế. Quá trình này cần bao gồm tất cả các giai đoạn của dự án, từ phát triển ban đầu đến tháo dỡ. Phạm vi khảo sát bao gồm cả khu vực ngoài khơi (vị trí lắp đặt tua-bin, tuyến cáp dưới biển, trạm biến áp trên biển) và khu vực trên bờ (điểm tiếp bờ, đường dây truyền tải, trạm biến áp).

    Các hoạt động khảo sát cụ thể bao gồm:

    1. Đo gió bằng thiết bị Floating LiDAR với thời gian 12-13 tháng để thu thập dữ liệu gió chính xác.

    2. Quan trắc sinh học sử dụng radar nổi và máy bay kèm camera để theo dõi chim và dơi di cư ở độ cao 30-300 mét, cũng như các sinh vật biển.

    3. Đo đạc sóng, dòng chảy và thủy triều.

    4. Khảo sát đáy biển bao gồm địa vật lý và địa chất công trình, xác định cấu trúc nền, mức độ xói mòn và các mối nguy hiểm địa chất.

    Khó khăn và vướng mắc

    TS. Dư Văn Toán chỉ ra nhiều bất cập trong quy trình cấp phép khảo sát hiện nay. Về quy trình và thời gian, thủ tục xin cấp phép khảo sát theo Nghị định 65/2025/NĐ-CP tuy đã được quy định nhưng thực tế phê duyệt còn chậm, gây ảnh hưởng đến tiến độ dự án. Nghị định quy định thời hạn giao khu vực biển tối đa 03 năm nhưng chưa có hướng dẫn cụ thể về gia hạn, trong khi các dự án thường cần thời gian khảo sát kéo dài hơn, đặc biệt là các dự án quy mô lớn. Ngoài ra, việc thiếu cơ chế "một cửa" khiến nhà đầu tư phải làm việc với nhiều cơ quan, kéo dài thời gian xử lý.

    Về quy hoạch không gian biển, quy hoạch không gian biển được Quốc hội phê duyệt từ năm 2004 nhưng chưa có không gian cụ thể dành cho các dự án ĐGNK, dẫn đến tình trạng chồng lấn với các hoạt động khác (hàng hải, quốc phòng, thủy sản, dầu khí). Các dự án được cấp phép khảo sát thường có diện tích gấp 3-4 lần so với quy định tối đa 20 ha/1 MW, cho thấy sự không thống nhất trong áp dụng định mức.

    Về quyền lợi nhà đầu tư, đặc biệt đối với các giấy phép khảo sát cấp theo quy định cũ (trước năm 2025), vấn đề về sở hữu dữ liệu, kinh phí khảo sát và quyền ưu tiên phát triển dự án chưa được làm rõ. Các công ty tư nhân và nước ngoài đã bỏ vốn khảo sát nhưng chưa có quy định rõ về quyền lợi và cơ chế hoàn trả chi phí nếu không được lựa chọn làm nhà đầu tư. Đặc biệt, có trường hợp chỉ được cấp phép 36 m² cho đo gió, trong khi các dự án khác được cấp cả vùng biển rộng lớn cho khảo sát tổng hợp.

    Về định mức và tiêu chuẩn kỹ thuật, các doanh nghiệp nhà nước cần có định mức kinh tế-kỹ thuật cho từng dạng khảo sát (gió, địa chất đáy, hệ sinh thái) nhưng chưa được ban hành đầy đủ. Chưa có bộ tiêu chuẩn kỹ thuật chuyên biệt cho ĐGNK, dẫn đến việc áp dụng không thống nhất các quy định về thiết bị đo đạc, phương pháp khảo sát.

    Đề xuất và kiến nghị

    Để tháo gỡ các khó khăn trên, TS. Dư Văn Toán đưa ra một số kiến nghị:

    Về chính sách và pháp lý: Xây dựng lộ trình và chính sách phát triển ĐGNK rõ ràng; ban hành kế hoạch thực hiện ĐGNK tổng thể từng năm giai đoạn 2026-2050 theo Quy hoạch điện VIII; xem xét xây dựng Luật chuyên biệt về ĐGNK hoặc sửa đổi Luật Điện lực, Luật Quy hoạch; bổ sung quy định rõ ràng trong Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo sửa đổi về trình tự và thẩm quyền cấp phép khảo sát ĐGNK.

    Về quy hoạch không gian biển: Xác định cụ thể không gian biển cho khảo sát, xây dựng, vận hành dự án ĐGNK với tổng công suất 139 GW đến 2050; có không gian riêng cho ĐGNK xuất khẩu; xem xét cấp giấy phép điện lực phù hợp.

    Về cấp phép và quyền lợi: Làm rõ quyền lợi của các công ty đã đầu tư khảo sát trong trường hợp giấy phép hết hạn hoặc chuyển đổi nhà đầu tư; quy định cơ chế bảo vệ dữ liệu và hoàn trả chi phí; thống nhất định mức khảo sát, đặc biệt là diện tích khu vực biển cho khảo sát.

    Về đầu tư và công nghệ: Thu hút FDI cho ĐGNK đi đôi với yêu cầu chuyển giao công nghệ và nội địa hóa thiết bị khảo sát, hệ thống điện và truyền tải; xây dựng Trung tâm ĐGNK và công nghệ chiến lược, hướng tới mục tiêu quốc gia biển mạnh.

    Kết thúc bài trình bày, TS. Dư Văn Toán nhấn mạnh sự cần thiết phải có sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp và các bên liên quan để xây dựng một khung pháp lý hoàn chỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển ĐGNK, đồng thời đảm bảo lợi ích quốc gia và thu hút đầu tư hiệu quả.

    Zalo
    Hotline